DONATION - PAYPAL

SỰ CẦN-THIẾT

 CUẢ SÁCH GIÁO-KHOA

 

TRẦN NGỌC NINH

 

 


Sự cần-thiết phải có sách giáo-khoa cho tuổi trẻ Việt Nam là một điều không cần phải bàn cãi. Viện Việt-Học nhận cái nhiệm-vụ thực-hiện công-việc này và kêu gọi toàn thể giới trí-thức Việt-nam, đặc-biệt là các vị học-giả, giáo-sư, chuyên-viên, cùng hợp tác để soạn-thảo sách học mọi trình-độ cho các học-sinh và sinh-viên ở mọi tuổi (mà tôi sẽ gọi chung là "tuổi trẻ", với cái nghĩa là tuổi còn muốn học  và còn có thể học được, không phải như các cháu mới sinh hay như tôi đã ngoài tám mươi tuổi).


Nhu-cầu trong nước tất-nhiên là khác với nhu-cầu ngoài nước.


Ngoài nước, khắp nơi trên thế-giới, ở Nhật-Bản, ở Đức, ở Pháp, ở Anh, ở Mĩ và cả ở Nga, ở Ba-Lan, ở Tiệp-Khắc, ở Rumani, tuổi trẻ Việt-nam có thể thâu nhận khoa-học, kĩ-thuật, tư-tưởng, âm-nhạc thẳng bằng ngoại-ngữ lên đến trình-độ cao nhất, ở mức mới nhất, một cách ào-ạt không màng lọc, không trở-ngại, trên nguyên-tắc hoàn-toàn tự-do. Trong nước, hàng rào ngôn-ngữ hợp lực với hàng rào kiểm-tra tư-tưởng và sự vô-sản-hoá học-thức làm cho cái trần nhà cuả sự hiểu-biết không thể nâng lên được quá những lời tuyên-bố thùng rỗng cuả Nhà Nước.  Mà khi nền giáo-dục Quốc-Gia bị bế-tắc thì tương lai cuả cả nước tất-nhiên là mù mịt tối-tăm.
Mặc đầu có sự chênh-lệch càng ngày càng lớn giưã khối diaspora ngoài nước và nhân-dân quốc-nội như thế, chúng ta ở ngoài nước cũng có những vấn-đề cực lớn trong tương-lai.  Trong phạm-vi cuả một lời kêu gọi đầu-tiên, tôi chỉ có thể nêu lên ba điều:

 

  1. Sự khác-biệt càng ngày càng sâu-đậm giữa truyền thống Á-Đông (đặc-biệt là Việt-Nam) và đời sống Âu Mĩ.  

Bên này là tinh-thần, tình-cảm, bên kia là vật-chất, là lí-trí.  Bên này là Đạo (ngay cả tôn-giáo Thiên-Chúa.  Nhập cảng từ trời Tây, cũng còn những tín-điều cổ cuả I-pha-nho và cuả nước Pháp trước Cách-mệnh 1789), bên kia là khoa-học, coi vật-lí là căn-bản.  Bên này coi chữ Hoà là lí-tưởng và sự nhịn-nhẫn là một đức-tính tối-cao, bên kia là sự đấu-tranh là lẽ thườngvà nâng nó lên thành chủ-nghĩa hay hơn nưã, thành đạo-lí cuả sự sống.


Tất-nhiên rằng đẩy lên đến chỗ cực-đoan thì cả hai chủ trương đều bế-tắc.  Sự cam chiụ đưa đến sự tha-hoá  và làm cho con người thành nô-lệ.  Sự đấu-tranh đem lại sự bất-an thường-xuyên và tận cùng bằng sự diệt-vong, vì sự tranh-đấu chỉ có thể hết khi không còn người tranh đấu.  Như Corneille đã viết trong một câu thơ bất-hủ, mà chính ông cũng không ngờ rằng nó thâm sâu đến thế.


Et le combat cessa, faute de combattants.
Và cuộc sát phạt ngưng, vì không ai còn ai để giết!


Đó là hậu-quả cuả lí-tưởng đấu-tranh khi được áp-dụng vào cuộc Đại Cách-mệnh Văn-Hoá, cuộc Cách-mạng Khmer đỏ, cuộc tàn-sát ở Kosovo...


2.  Sự học xưa ở Việt-Nam chỉ có một mục-đích.  Ngày xưa ta gọi là cử-nghiệp, nghĩa là cái học để ra làm quan.  Học cái học mới cuả Âu-Mĩ, nếu mục-đích cũng chỉ là để vinh thân phì gia thì lỡ cả một cuộc đời và làm mất một cơ-hội để tự thực hiện.
Cũng phải nói rằng tinh-thần quan-lại (esprit mandarinal)  đã bắt đầu xâm nhập vào xã-hội Âu-Mĩ.  Đó là một triệu-chứng cuả sự suy-vi cuả Tây-Phương (The decline of the West) mà chúng ta phải cố tránh.


3.  Với những hiểu biết cuả loài người trong hiện-tại (những hiểu biết ấy sẽ càng ngày càng rộng hơn), về sự phát-triển tâm-lí cuả trẻ con, về cá-tính cuả trẻ, về những tương-quan giưã cá-nhân và xã-hội, về những khoa-học nhân-văn như ngữ-lí-học (linguistics, khoa tiến-bộ nhất trong các khoa-học về con người, sau sinh-học, biology) và xã-hội-học, một sự xét lại các phương-pháp giáo-dục đã trở nên cần thiết.  Lẽ dĩ nhiên sự xét lại này phải liên-tục trong vĩnh-cửu.  Giáo-dục là một vấn-đề vô cùng phức-tạp và khó-khăn.  Hiện-thời không có một nền giáo-dục nào, cuả một nước hay một đoàn-thể nào, có thể cho là lí-tưởng.  Các bậc thức-giả trên thế-giới hằng mong rằng có một đại-học - không dám nói tới những bậc dưới không kém quan-trọng định ra được mục-tiêu là sửa-soạn cho sinh-viên đi vào thế-kỉ thứ hai mươi mốt với một sự hiểu biết đủ để giải quyết những vấn-đề cuả thời-đại. 

 

Xin toàn thể các bậc thức-giả Việt-nam tiếp tay với chúng tôi để cùng xây dựng ít ra là tuổi trẻ cuả nước Việt-nam ngày mai.


 

TRẦN NGỌC NINH

Trích báo Việt-Học, số1,

 tháng Hai, năm 2005

 

 

Cách viết Việt-Ngữ đưạ vào sách Cơ-Cấu Việt-Ngữ, Trần Ngọc Ninh.  USA:  Cơ-sở Xuất-Bản Viện Việt-Học 2017.

Một cách tổng-quát:

1.  Nguyên-âm:  i, ê, e, a, ư, u, ô, ơ, o;

2.  Hai nguyên-âm ngắn, đặc-biệt:  â, ă;

3.  Bán-âm:  i, y, u, o, ư;

4.  Viết là i, khi i đứng một mình hay theo sau một phụ-âm:  I-khoa, mì li...  Các trường-hợp

     khác giữ cách viết cuả i, y như cũ;

5.  Để dấu thanh trên nguyên-âm, thí-dụ:  Văn-hoá, í-nghiã...

6.  Dấu nối: 
6.1.  Tiếng thuần Việt (chim chẻo-bẻo...);

6.2.  Tiếng Hán-Việt:
6.2.1.  Khi có chức năng là "S", và "Adjunct";

6.2.2.  Khi có chức-năng là "V", không có dấu nối